Mô tả: Quả thể nấm mọc hằng năm, thường mọc đơn lẻ hay thành đám, dạng mũ có cuống, có kích thước trung bình đến lớn. Mũ nấm thường có đường kính 4-6 cm, có dạng hình bán cầu khi non, trở thành dạng lồi, lồi rộng hoặc phẳng, hơi nhô lên ở giữa khi trưởng thành; bề mặt mũ nấm có màu vàng nhạt, có tâm màu đỏ thẫm hoặc đỏ cam, khô, sỉn màu, có vết nứt khi già, rìa mũ có dạng răng lược. Thụ tầng dạng phiến, đính một góc hẹp vào cuống.
Phiến nấm rộng khoảng 0,5 cm, sát nhau, xen kẽ, màu vàng đến vàng chanh, thỉnh thoảng chia đôi, không chuyển màu khi bị thương; phiến ngắn cùng màu với phiến dài. Thịt nấm mềm, đồng nhất, dày đến 10 mm ở giữa mũ, có màu trắng, không chuyển màu khi tiếp xúc với không khí. Cuống có kích thước 5-12 × 0,5-1 cm, đính tâm hay lệch tâm, hình trụ đều, cuống rỗng; bề mặt có màu vàng cam hoặc vàng nhạt, khô, phủ lớp vảy cam, không chuyển màu khi
chạm. Gốc cuống không có. Bao gốc dạng túi, mảnh, trắng hoặc vàng nhạt. Vòng nằm sát mũ, đỏ cam.
Sinh thái và môi trường sống: Nấm thường mọc đơn độc hay thành đám trên nền đất rừng thông ba lá (Pinus kesiya) và thông hai lá (Pinus latteri) xen với các loài sồi dẻ, thường gặp vào mùa mưa từ tháng 5.
Amanita rubromarginata - Har. Takah. 2004
Phân loại: Giới: >> Họ: >> Chi:
Thông tin loài
Tên thường gọi: | |
Tên khoa học: | Amanita rubromarginata |
Tác Giả: | Har. Takah. 2004 |
Mùa: | |
Loại nấm: | Nấm Ăn Được |
Mùi/vị: | |
Phân bố: | loài được mô tả ban đầu từ Nhật Bản (Takahashi, 2004); sau ghi nhận ở Thái Lan (Thongbai et al., 2016; Kumla et al., 2023); Trung Quốc (Cui et al., 2018); mới ghi nhận lần đầu ở Việt Nam |
Sinh cảnh: |