Mô tả: Quả thể nấm mọc hằng năm, thường mọc đơn lẻ hay thành đám, dạng mũ có cuống, có kích thước nhỏ đến trung bình. Mũ nấm có đường kính 2-6 cm; ban đầu có dạng hình cầu hoặc bán cầu, sau trở nên lồi đến lồi rộng khi trưởng thành; bề mặt mũ nấm có màu đỏ nâu, bề mặt phủ nhiều vảy màu đỏ đậm; rìa mũ nấm còn vết tích của bao chung khi trưởng thành. Phần rìa bao chung kéo dài phủ lấy đỉnh cuống khi còn non, dạng màng cùng màu với mũ nấm. Thụ tầng dạng ống, lõm gần đỉnh cuống, bề mặt có màu vàng nhạt đến vàng, chuyển sang màu xanh dương khi bị thương. Ống dài đến 15 mm, có màu vàng, miệng lỗ tròn, có 1-2 lỗ trên mỗi milimét. Thịt nấm xốp, đồng nhất, dày đến 15 mm ở giữa mũ, có màu vàng nhạt đến vàng, chuyển màu xanh dương khi phơi ra ngoài không khí. Cuống có kích thước 5-15×1-1,5 mm, đính tâm, hình trụ thẳng đều, cuống đặc; bề mặt có màu tím đỏ đến đỏ nâu, phần gần đỉnh cuống màu vàng nhạt, khô, có các thớ sợi; gốc cuống được bao phủ bởi một lớp tơ màu trắng.
Sinh thái và môi trường sống: Nấm thường mọc đơn độc hay thành cụm trên nền đất rừng hoặc đôi khi trên phần gỗ ở gốc của thông. Nấm cộng sinh với thông ba lá (Pinus kesiya), thường gặp suốt mùa mưa từ tháng 5-11.
Boletellus emodensis - (Berk.) Singer 1942
Phân loại: Giới: >> Họ: >> Chi:
Thông tin loài
Tên thường gọi: | |
Tên khoa học: | Boletellus emodensis |
Tác Giả: | (Berk.) Singer 1942 |
Mùa: | |
Loại nấm: | Nấm Ăn Được |
Mùi/vị: | |
Phân bố: | Loài này được mô tả ban đầu từ Ấn Độ (Pegler & Young, 1971), sau ghi nhận ở nhiều vùng của Trung Quốc (Zeng & Yang, 2011; Xue et al., 2023), Úc (Halling et al., 2015), và Việt Nam (Trịnh Tam Kiệt, 2012). |
Sinh cảnh: |